Suy thoái đạo đức, lối sống là một trong số các nguy cơ lớn mà chúng ta đang phải đối mặt. Tăng cường giáo dục đạo đức trong cảnh hiện nay cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, có tính khả thi, cần có sự quan tâm, chung tay, góp sức của tất cả các cấp, các ngành và mọi cá nhân, tầng lớp trong xã hội.   

Một xã hội thực sự văn minh phải là một xã hội mà trong đó các giá trị văn hóa, đạo đức được đề cao và trân trọng. Xã hội chỉ có thể tiến bộ, phát triển nếu như ở đó tính tự nguyện tự giác được đặt lên hàng đầu, sự cưỡng chế hay áp đặt phải được đẩy xuống hàng thứ yếu. Có thể nói trong bất kỳ giai đoạn nào, trong bất kỳ xã hội nào, những giá trị văn hóa và đạo đức chân chính vẫn luôn luôn có vai trò, vị trí hết sức quan trọng không thể thay thế.

Hiện nay chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những tác động của nền kinh tế thị trường đến đời sống văn hóa, đạo đức của con người và xã hội Việt Nam là không hề nhỏ bé. Chúng ta đang phải đối mặt với những nguy cơ hết sức trầm trọng. Nếu không kịp thời có những giải pháp chấn chỉnh thì chắc chắn những hậu quả mà chúng ta phải đối phó trước mắt và trong tương lai lâu dài là hết sức nặng nề. Nguy cơ đó chính là sự suy thoái về đời sống văn hóa, đạo đức trong xã hội hiện nay. Điều đó cũng đã được xác định một cách hết sức rõ ràng trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Tại bài học kinh nghiệm thứ 5, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên”.

Trong thực tế hiện nay, có thể nhận thấy sự thoái hoá, biến chất cả về văn hóa lẫn đạo đức một cách rõ nét trong rất nhiều lĩnh vực, trong rất nhiều vấn đề. Từ những lĩnh vực quan trọng đến những lĩnh vực ít quan trọng, từ những vấn đề nhỏ bé đến những vấn đề hết sức lớn lao, có quan hệ đến vận mệnh của cả quốc gia, dân tộc. Sự thoái hoá, biến chất này không chỉ là của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà hình như đang có nguy cơ lan tràn và thể hiện cả ở bình diện chung của toàn xã hội. Trước hết, nhìn vào lĩnh vực giáo dục, chúng ta nhận thấy sự suy thoái văn hóa, đạo đức biểu hiện ở căn bệnh thành tích, biểu hiện ở sự gian lận trong thi cử, biểu hiện ở bằng cấp giả, học vị giả, học vấn giả, biểu hiện ở sự lệch lạc trong chương trình đào tạo, trong nhận thức của rất nhiều người về việc chọn ngành nghề, chọn trường lớp…

 Những biểu hiện này đã được nhắc đến nhiều trên báo chí, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các diễn đàn hội nghị ở nhiều cấp, nhiều nơi. Tuy nhiên vẫn còn rất ít người nghĩ tới nguyên nhân cơ bản và sâu xa của những hiện tượng này. Theo chúng tôi, đó chính là vấn đề suy thoái văn hóa, đạo đức đang diễn ra một cách thầm lặng nhưng nhanh chóng, một vấn đề hết sức nguy hiểm cho tương lai của cả đất nước.

Nhìn vào lĩnh vực kinh tế, chúng ta thấy nạn suy thoái văn hóa, đạo đức cũng biểu hiện lan tràn  trên rất nhiều khía cạnh. Đó là sự cạnh tranh không lành mạnh, cố tình sử dụng những biện pháp gian dối, thâm độc để triệt hạ lẫn nhau giữa các đối thủ. Đó là nạn làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của khách hàng. Bên cạnh đó còn những biểu hiện nguy hiểm với mức độ trầm trọng hơn như việc vì mục tiêu lợi nhuận, nhiều nhà sản xuất cố tình sử dụng các chất độc hại, các chất bị cấm sử dụng gây ảnh hưởng hết sức lớn lao, nguy hại đến sức khỏe của người tiêu dùng, ví dụ những chất độc gây ung thư trong nước tương, chất melanin trong sữa... Sự suy thoái văn hóa, đạo đức ở đây được báo động và hết sức đáng lo ngại vì những điều đó đôi khi được mặc nhiên thừa nhận một cách công khai, được xem như là những điều vô hại và được phổ biến, lan tràn trong xã hội một cách hết sức nhanh chóng, phổ biến vì chúng không hề gặp phải những lực cản đáng kể (có thể thấy rõ điều này trong các chương trình quảng cáo trên truyền hình, thậm chí là ngay cả ở khá nhiều kênh chính thống và rất phổ biến, có số lượng khán giả rất đông đảo). Nếu cứ đà này, trong một tương lai ngắn nữa không biết chúng ta sẽ đi về đâu?

Không chỉ diễn ra trong giáo dục, trong kinh tế, sự suy thoái văn hóa, đạo đức đã khá phổ biến và chúng ta có thể dẫn chứng về các dấu hiệu của nó trong bất kỳ lĩnh vực nào, kể cả chính trị,  y tế, thể dục, thể thao… Trên đây chỉ là những dẫn chứng tiêu biểu và đã được khẳng định trong thời gian qua trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Từ những dấu hiệu và thực trạng trên, dưới ánh sáng của cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã được bổ sung, phát triển và thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 vừa qua, chúng ta thấy rằng đã đến lúc cần phải phát động một cuộc chiến thực sự trên mặt trận chống suy thoái văn hóa và đạo đức.  Để thực hiện thành công phương hướng thứ ba trong Cương lĩnh: “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” thì rõ ràng điều đầu tiên, có tính quyết định ở đây là phải xem việc chống lại sự thoái hoá, biến chất về văn hoá, đạo đức trong xã hội ngày nay như là một “cuộc chiến” hết sức cam go và quyết liệt.

Chúng tôi dùng từ “phát động cuộc chiến” có lẽ  không phải là cường điệu hoá sự thật. Có thể nói đây là một mặt trận hết sức phức tạp. Nó đòi hỏi sự chú ý quan tâm của tất cả các cấp, các ngành, của tất cả các bộ phận, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội. Và trên hết nó đòi hỏi mỗi một cá nhân phải tham gia với tất cả tinh thần thái độ, ý thức trách nhiệm cao nhất vì tương lai của cả xã hội nói chung và của từng cá nhân con người Việt Nam nói riêng. Bài viết này cũng mong muốn có được một phần đóng góp nhỏ bé vào mặt trận hết sức quan trọng này.

Trước hết theo chúng tôi để chống sự suy thoái văn hóa và đạo đức trong bối cảnh hiện nay chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động, tuyên truyền giáo dục. Có thể nói bản chất của đạo đức gắn liền với ý thức tự nguyện tự giác. Một khi các giá trị đạo đức chân chính được thẩm thấu vào phẩm chất cá nhân một cách tự nguyện tự giác trên cơ sở những nhận thức sâu xa thông qua các quá trình tuyên truyền giáo dục thì chúng sẽ tạo ra những sức mạnh vô cùng to lớn và có tác dụng giúp con người đề kháng, tự vệ một cách vô cùng có hiệu quả trước sự tác động xấu xa độc hại của những tệ nạn xấu xa của xã hội.

 Quá trình tuyên truyền, giáo dục để nâng cao hơn nữa ý thức đạo đức cho mỗi một công dân Việt Nam cần phải được tiến hành một cách có hệ thống, đồng bộ từ mục tiêu đến nội dung, từ trung ương đến địa phương, từ gia đình đến nhà trường và rộng ra toàn xã hội. Chúng ta cần hoạch định những chiến lược lâu dài cho quá trình chống nạn suy thoái đạo đức. Có thể nói từ trước đến nay chúng ta vẫn tiến hành một cách khá thường xuyên công tác này song cách làm vẫn còn có những điều gì đó mang tính nhất thời, vụn vặt, không nhất quán. Chúng ta vẫn chưa vạch ra được một cách cụ thể những mục tiêu cần đạt được, vẫn chưa có những nội dung thật sự xác đáng về các giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với các chuẩn mực của thời đại để con người Việt Nam hướng tới…Trong công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục các vấn đề văn hóa, đạo đức cần phải hết sức chú ý tới sự tác động của quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất. Nói điều đó có nghĩa là quá trình này phải được duy trì một cách thường xuyên, liên tục, phải kiên trì và bền bỉ để tránh tình trạng leo cột mỡ, cuối cùng sẽ không đạt được những hiệu quả như mong muốn.

Điều quan trọng trước hết đó là chúng ta phải xác định được một cách khoa học, có căn cứ và hết sức cụ thể những nội dung, những giá trị, những phạm trù văn hóa và đạo đức căn bản nhất cần được hình thành, cần được khắc sâu trong tâm hồn, trong nhân cách của mỗi một công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Những nội dung, những giá trị văn hóa, đạo đức đó phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chuẩn. Chúng vừa phải phù hợp với các chuẩn mực giá trị truyền thống, vừa phải phù hợp với bối cảnh hiện tại, vừa không thể trái với các quy định của pháp luật. Mặt khác, chúng cũng phải thích hợp với phong cách, lối sống, khả năng thích ứng của con người Việt Nam. Để có được hệ thống những nội dung, những giá trị, phạm trù văn hóa và đạo đức này rõ ràng là cần phải có những công trình nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc, tỷ mỷ, có chất lượng, cần phải có sự quan tâm đầu tư thích đáng của các cấp quản lý và lãnh đạo và cần phải có nhiều yếu tố khác kèm theo. Tại phần III- Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Cương lĩnh 2011 cũng đã xác định hết sức rõ ràng:  “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; khẳng định và biểu dương các giá trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những biểu hiện phản văn hoá. Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân. Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Để chống sự suy thoái văn hóa và đạo đức một cách có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay, theo chúng tôi bên cạnh việc xác định đúng mục tiêu, nội dung tuyên truyền giáo dục, chúng ta cũng phải có nhiều hình thức tiến hành thích hợp để công tác này đạt hiệu quả cao. Trước hết phải thấy dược vai trò quan trọng của báo chí, của đài phát thanh truyền hình, của các phương tiện thông tin đại chúng nói chung. Hơn ai hết những người công tác trong các lĩnh vực này phải ý thức được rằng họ chính là những người có trách nhiệm đi tiên phong trong công tác phòng chống các biểu hiện suy thoái văn hóa và đạo đức.

Bên cạnh đó cần có sự kết hợp một cách chặt chẽ, đồng bộ giữa gia đình và nhà trường. Có thể nói những ý thức đầu tiên mà con người được tiếp nhận và hình thành là thông qua môi trường gia đình, sau đó sẽ tiếp tục được phát triển, củng cố trong nhà trường và xã hội. Do đó công tác tuyên truyền giáo dục ý thức đạo đức trong gia đình và nhà trường là hết sức quan trọng và phải được quan tâm chú ý, đầu tư một cách thích đáng, đúng mức hơn nữa. Trong những năm qua chúng ta cũng đã có phần nào xem nhẹ công tác giáo dục ý thức văn hóa và đạo đức trong gia đình và nhà trường. Do tác động của kinh tế thị trường, do tác động của nhiều nguyên nhân khác, trong gia đình trẻ em nhiều khi được giáo dục một cách lệch lạc về các vấn đề văn hóa và đạo đức. Những giá trị đạo đức chân chính nhiều khi không được đề cao. Trong nhà trường học sinh chỉ mải mê theo đuổi những vấn đề tri thức thuần tuý, cố gắng học một cách nhồi nhét để làm sao qua được các kỳ thi cử một cách máy móc. Những vấn đề ý thức đạo đức không được chú trọng, không được trau dồi rèn luyện một cách thường xuyên để trở thành những bản năng tự giác. Điều nguy hiểm hơn là những tấm gương đạo đức, những phẩm chất đạo đức cao quý không được chú ý đề cao, ca ngợi. Cá biệt còn có hiện tượng tẩy chay, xem thường các giá trị này. Thời lượng các môn học có tác dụng truyền thụ, giáo dục các vấn đề đạo đức còn quá ít, chưa tương xứng với các môn học khác, chưa đáp ứng, theo kịp những nhu cầu, đòi hỏi khá bức xúc trên lĩnh vực này. Nhiều học sinh có thể rất giỏi tin học, toán học, ngoại ngữ …nhưng các vấn đề về ý thức đạo đức thì lại rất thấp, thậm chí không hề có. Những hạn chế này phải được khắc phục một cách kịp thời bằng những biện pháp mạnh, có hiệu lực nhanh, nếu không tình trạng suy thoái đạo đức sẽ tiếp tục lan tràn một cách ngày càng đáng lo ngại hơn.

Một giải pháp nữa theo chúng tôi cũng hết sức cần thiết đó là chúng ta cần đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức thông qua các tấm gương đạo đức sáng ngời trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Gần đây Đảng và nhà nước đang ra sức đẩy mạnh cuộc vận động tuyên truyền vấn đề học tập tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc vận động này là hết sức cần thiết, có vai trò và tác dụng vô cùng quan trọng, vô cùng có ý nghĩa đối với mọi con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Những cuộc vận động như thế này cũng cần phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục và phải được triển khai, tiến hành với những quy mô sâu rộng trên tất cả các cấp các ngành, các lĩnh vực. Ngoài tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng cần phải tiếp tục vận động tuyên truyền học tập các tấm gương khác như  Chu Văn An, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi... Các tấm gương đạo đức của các danh nhân văn hoá thế giới, đặc biệt là của các lãnh tụ vĩ đại như C.Mác, Ph.Ăngghen… cũng cần được chú trọng đề cập để thế hệ trẻ có thể xem đó như những khuôn mẫu chuẩn mực nhằm cố gắng noi theo.

Một vấn đề không thể xem nhẹ trong công cuộc phòng chống sự suy thoái đạo đức trong giai đoạn hiện nay theo chúng tôi đó chính là việc kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa vai trò của đạo đức và vai trò của pháp luật. Chúng ta đều biết rằng đạo đức và pháp luật đều có sự tác động, ảnh hưởng đến hành vi của con người, cả hai đều có vai trò hết sức quan trọng, không thể thiếu trong việc hình thành nhân cách của mỗi một cá nhân và trong quá trình vận động, phát triển vì sự tiến bộ của xã hội nói chung. Tuy nhiên sự tác động đến con người và xã hội của đạo đức và pháp luật lại dựa trên những cơ sở hoàn toàn khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Nếu như đạo đức tác động và điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tính tự nguyện tự giác thì pháp luật lại tác động và điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở của sự áp đặt và cưỡng chế, trên cơ sở tính quyền lực của các thiết chế xã hội. Do sự khác nhau này nên xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng giữa đạo đức và pháp luật là hoàn toàn tách rời nhau, không thể kết hợp hài hoà với nhau. Cũng có những quan điểm cực đoan khác khẳng định rằng chỉ cần một trong hai lĩnh vực, hoặc là đạo đức, hoặc là pháp luật. Nếu nhùng nhằng giữa hai lĩnh vực thì có thể dẫn đến tình trạng “phép vua thua lệ làng” hoặc “bên tình bên lý bên nào nặng hơn” và do đó lại càng đẩy nhanh hơn nữa sự suy thoái đạo đức, nhân cách của con người. Thực ra mặc dù khác nhau rất nhiều song giữa đạo đức và pháp luật không hề đối lập nhau, không thể tách rời nhau như những quan điểm vừa nêu. Theo chúng tôi, những giá trị đạo đức chân chính như sự thật thà, lòng dũng cảm, tính cao thượng, tình thương yêu giữa con người với con người, tinh thần yêu nước, ý thức tự hào dân tộc .v.v. luôn luôn mang tính vĩnh cửu, vượt lên trên mọi khoảng không – thời gian và do vậy chúng không bao giờ mâu thuẫn hoặc tách rời với những quy định của những thể chế pháp luật tiến bộ, nhân văn, vì con người và xã hội loại người. Một sự thật nữa cũng cần được khẳng định, đó là khi được kết hợp một cách chặt chẽ, hài hoà với các quy định của pháp luật thì sức mạnh và sự tác động của các giá trị đạo đức lại càng được tăng lên gấp bội. Tuy nhiên trong thực tế,để kết hợp một cách hài hoà giữa hai lĩnh vực này đòi hỏi chúng ta phải có những chiến lược, sách lược cụ thể, cần có những nghiên cứu khoa học làm nền tảng để vạch ra những căn cứ có sức thuyết phục hơn. Rõ ràng là sự kết hợp này không thể diễn ra một cách chóng vánh dựa trên những cơ sở duy ý chí một cách thuần tuý. Từ trước đến nay ở nước ta vẫn còn có những sự tách biệt một cách đáng kể giữa hai lĩnh vực và từ đó nảy sinh khá nhiều mâu thuẫn, lộn xộn, bất hợp lý trong hành vi ứng xử, trong các tranh chấp của các cá nhân và tập thể. Có những hành vi là vi phạm pháp luật nhưng lại được nhiều người thực hiện vì họ cho rằng nó không trái với đạo đức hoặc ngược lại. Không thể cứ tiếp tục kéo dài tình trạng này như vậy sẽ dẫn đến sự suy thoái của cả đạo đức lẫn pháp luật.

Ngoài những giải pháp nêu trên, chúng ta cần nhanh chóng, kịp thời biểu dương, ca ngợi, khen thưởng một cách xứng đáng những tấm gương đạo đức xuất hiện trong đời sống thực tiễn của xã hội. Những tấm gương nghèo vượt khó, những cá nhân có ý chí cần cù bền bỉ biết vượt lên trên hoàn cảnh, số phận để đạt được những thành tích xuất sắc trong học tập, lao động, kinh doanh…, những tấm lòng thương yêu tha thiết con người, những hành động thực sự cao thượng, dũng cảm, chất chứa tinh thần nhân văn cao cả cần được phát huy và nhân rộng trên phạm vi toàn xã hội. Những cá nhân, những hành động đó rất xứng đáng được ngợi ca, được biểu dương một cách rộng rãi. Đã có một thời những cuốn sách viết về người tốt, việc tốt, những bài báo viết về những tấm lòng nhân ái cao cả được chuyền tay nhau đọc trong nhà máy, trên chiến hào. Vậy mà giờ đây, khi đời sống kinh tế đã bớt khó khăn hơn, khi của cải vật chất đã bắt đầu dồi dào đầy đủ hơn thì hầu như những cuốn sách, những bài báo như thế lại không còn xuất hiện nữa. Điều đáng buồn này chắc chắn sẽ gây ra nhiều nỗi băn khoăn lo lắng cho tất cả những ai còn có tấm lòng hướng về cái chân, thiện, mỹ.

Có thể nói còn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục đi sâu, thảo luận một cách công phu, tỷ mỷ hơn nữa khi bàn về các giải pháp nhằm chống nạn suy thoái văn hóa và đạo đức trong bối cảnh hiện nay. Trong phạm vi này, chúng tôi chỉ mới dừng lại ở một vài giải pháp với tính cách tiếp cận ban đầu. Điều cuối cùng  và có lẽ cũng là điều vô cùng quan trọng, đó là theo chúng tôi đã đến lúc chúng ta phải thực sự xem xét một cách nghiêm túc nạn suy thoái đạo đức như là một nguy cơ hết sức to lớn. Đảng và nhà nước cũng đã đề cập, nhấn mạnh đến nguy cơ này, tuy nhiên trong thực tiễn vẫn chưa thấy những biện pháp, những hành động một cách thực sự mạnh mẽ, quyết liệt và có hiệu quả trên phạm vi sâu, rộng toàn xã hội. Đã đến lúc cả xã hội, cả đất nước cần phải lên án những hành vi, việc làm trái với đạo đức chân chính và tiến bộ, cần phải cất lên tiếng nói của lương tri cao cả, của tấm lòng nhân văn sâu sắc. Con người Việt Nam, đất nước Việt Nam sẽ mãi mãi trường tồn với những giá trị đạo đức thiêng liêng vĩnh hằng, vĩnh cửu./.

                                                                                                                                                      PGS. TS. Nguyễn Thái Sơn, Viện KHXH&NV – Đại học Vinh

                                                                                                                                                                                     (Bài đăng trên Tạp chí riết học số 11/2011)