1. Hồ Chí Minh với con đường tự học

1.1. Một số lời dạy của Hồ Chí Minh về tự học - tự giáo dục

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, Người đã cống hiến trọn đời mình cho độc lập tự do của đất nước, cho hạnh phúc của nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục và bản thân Người là một nhà giáo dục, nhà sư phạm mẫu mực. Trong di sản tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh thì những chỉ dẫn của Người về tự học, tự đào tạo có ý nghĩa rất lớn đối với các thế hệ người học.

Trong tác phẩm "Sửa đổi lề lối làm việc", Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn rất sâu sắc về tự học: "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [1]. Người cũng nhấn mạnh để có thể tự học được cần phải thực hiện tốt khâu thảo luận, Người viết: “Khai hội thảo luận và phê bình. Trong lúc thảo luận, mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy” [2]. Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập, Hồ Chí Minh lại đặc biệt nhấn mạnh "Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”. Người còn chỉ rõ: "Không phải có thầy đến thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập" [3]. Muốn quá trình học có hiệu quả ngoài lĩnh hội tri thức lý thuyết, học tập ở trên lớp thì cần: “Sắp xếp thời gian và bài học… phải cho khéo, phải có mạch lạc với nhau”[4].

Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên chúng ta: "Phải thực hiện lời dạy của Lênin là học, học nữa, học mãi"[5], Người luôn coi đó là phương châm sống, phương châm làm việc của mình. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh khuyên người học cần phải thật thà, thẳng thắn, không dấu dốt, phải học hỏi cái hay, cái tốt của anh em, bè bạn, không tự mãn, kiêu ngạo.

Trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh, những lời dạy của Người về tự học đã làm nổi bật vai trò của tự học, tự nỗ lực của bản thân trên con đường chiếm lĩnh tri thức, hình thành năng lực hoạt động thực tiễn. Sự tự động học tập của bản thân là yếu tố quyết định trong quá trình hình thành nhân cách, bản thân người học phải tự vạch ra kế hoạch trên cơ sở môi trường học tập và sự chỉ đạo giúp vào.

Đặc biệt trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tự học, tự giáo dục Người không chỉ yêu cầu đối với người học mà theo Người, muốn người học có tinh thần tự học thì người dạy phải tự mình nâng cao trình độ, phẩm chất, bởi chỉ có khi nào người dạy trở thành một tấm gương lớn về tự học, tự sáng tạo thì mới lan tỏa được tinh thần ấy cho người học. Trong buổi nói chuyện tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III miền Bắc, Người nói: "Giáo viên chớ nên cho học thế này là đủ, mà phải tiếp tục học thêm để tiến bộ mãi"; “Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi…cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” [6]. Để theo kịp với nhân dân, để phát triển và tiến bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên các thầy giáo, cô giáo và cán bộ giáo dục:“Thầy giáo, những cán bộ giáo dục đều phải luôn luôn cố gắng học thêm, học chính trị, học chuyên môn. Nếu không tiến bộ mãi, thì sẽ không theo kịp đà tiến chung, sẽ trở thành lạc hậu” [7]. Như vậy, theo Người cán bộ giáo viên phải là người tiêu biểu, phải trở thành tấm gương sáng cho tinh thần tự học, sáng tạo không ngừng: “Tất cả giáo viên chớ nên cho học như thế này đã là đủ, mà phải tiếp tục học tập thêm để tiến bộ mãi”; “Cán bộ và giáo viên cũng phải tiến bộ cho kịp thời đại thì mới làm được nhiệm vụ. Chớ tự túc, tự mãn, cho mình là giỏi rồi thì dừng lại. Mà dừng lại là lùi bước, là lạc hậu, tự mình đào thải trước" [8].

1.2. Hồ Chí Minh - tấm gương lớn về tinh thần tự học

Mặc dù không có điều kiện để trang bị học vấn bằng việc đến trường, nhưng Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc, trí tuệ thời đại để nhằm mục tiêu cao cả là giải phóng dân tộc, giải phóng con người.

Trên con tàu Latouche Treville trong hành trình đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Văn Ba đã thể hiện rất rõ ý chí tự học: “Mỗi ngày đến chín giờ tối công việc mới xong, anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi mọi người nghỉ hay đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến mười một giờ hoặc nửa đêm”[9]

Từ tâm hồn của một nhà yêu nước, tư duy độc lập, tự chủ sáng tạo với vốn tri thức phong phú của thời đại, vốn kinh nghiệm đấu tranh trong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin. Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã khai trình độ học vấn là: Tự học. Tiếp theo là câu hỏi: Đồng chí biết những ngoại ngữ nào? Người ghi: Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga. Như vậy, trong hành trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã tích lũy cho mình vốn tri thức lý luận và thực tiễn phong phú, đặc biệt là khả năng tự học ngoại ngữ để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Khi nói chuyện với sinh viên trường Đại học thành phố Băng Đung - Inđônêxia, Người đã nói về con đường tự học của mình: "Khi còn trẻ tôi không có dịp đến trường học. Tôi đã đi du lịch và để làm việc, đó là trường đại học của tôi. Trường đại học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội. Nó đã dạy cho tôi cách yêu, cách ghét, yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hòa bình và căm ghét áp bức, ích kỷ,… Trường học ấy đã dạy cho tôi khoa học quân sự… Trường học ấy đã dạy cho tôi lịch sử…Trường học ấy đã dạy cho tôi chính trị… "[10]. Trường học đó chính là cuộc sống, chính là xã hội, chính là cuộc đấu tranh của nhân dân lao động trên toàn thế giới đấu tranh xóa bỏ áp bức, bất công xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa 1, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, khi bàn về phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh đã dạy: "Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân"[11].

Người phê bình các cán bộ không chịu học hỏi, không ham tiến bộ, ít học tập để nâng cao trình độ: "Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là đã già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng"[12].

Như vậy, theo Hồ Chí Minh mục đích của tự học, tự rèn luyện chính là để phục vụ cho lý tuởng cao cả, học để biết yêu, biết ghét, học để phụng sự Tổ quốc, học để trở thành người có ích cho nhân dân.

2. Giáo dục sinh viên tinh thần tự học theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh

Tự học có nghĩa là sinh viên phải tự mình xây dựng kế hoạch, đặt ra mục tiêu, xác định phương pháp học tập; năng động tìm tòi, phân tích nội dung bài học, tài liệu tiến tới làm chủ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; có khả năng tự chủ trước những tác động tiêu cực của xã hội. Để thực hiện những nội dung trên, sinh viên cần xác định đúng các nội dung sau:

2.1. Xác định mục đích học tập

Khi bước chân vào giảng đường đại học mỗi sinh viên phải xác định mục đích học tập, phải trả lời được câu hỏi mà Hồ Chí Minh đã nêu trong Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ 2: "Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình”[13]. Chỉ có khi nào trả lời đúng những câu hỏi này, sinh viên mới có thể bắt đầu quá trình học tập, nghiên cứu của mình ở trường đại học. Ngày nay dưới sự tác động, chi phối của cơ chế thị trường, có thể mục đích học của sinh viên có sự thay đổi, có sự chuyển dịch về định hướng nghề nghiệp, nhưng mỗi sinh viên đều phải xác định: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”[14]. Điều đó được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, "Học tập để sửa chữa tư tưởng", bởi "Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ đạo đức cách mạng", điều đó có nghĩa là khi chúng ta đã xác định nghề nghiệp tương lai thì phải dốc lòng, dốc sức, toàn tâm toàn ý để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng với yêu cầu của xã hội.

Thứ hai, "Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng". Có trình độ chuyên môn, có tài mới chỉ là một nửa, mà người cách mạng cần phải có đức làm gốc, tu dưỡng rèn luyện đạo đức cũng là một yêu cầu cấp thiết đối với mỗi sinh viên, làm sao để mỗi thế hệ sinh viên sống xứng đáng với công lao của các thế hệ đi trước, xứng đáng là người Việt Nam.

Thứ ba, "Học để tin tưởng", tin tưởng vào Đoàn thể, vào nhân dân, vào tương lai của dân tộc, tương lai của cách mạng, bởi "có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc gặp khó khăn mới kiến quyết, hy sinh". Đây là một vấn đề rất quan trọng đối với sinh viên, là người chủ tương lai của nước nhà, sinh viên phải có niềm tin, truyền nhiệt huyết và niềm tin đó cho thanh niên, cho thiếu niên, nhi đồng. Đặc biệt là sinh viên sư phạm - những nhà giáo tương lai - những người không chỉ truyền thụ tri thức mà còn nhen nhóm và thổi bùng ngọn lửa niềm tin trong các thế hệ học sinh.

Thứ tư, "Học để hành: học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy"[15]. Đây chính là sự kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, sinh viên phải được trang bị hệ thống lý luận tiên tiến, vững chắc. Lý luận đó phải được áp dụng vào thực tiễn, nếu không sẽ trở thành lý luận suông, sẽ rơi vào bệnh "giáo điều", bệnh "sách vở",…

2.2. Xác định thái độ học tập

Để thực hiện được mục đích học tập sinh viên cần hình thành thái độ học tập, nghiên cứu nghiêm túc. Thể hiện ở một số mặt sau:

Thứ nhất, phải tự nguyện, tự giác, tích cực, tự động hoàn thành nhiệm vụ học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập. Cần mẫn, siêng năng, chăm chỉ, hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập một cách chủ động và sáng tạo, phải “có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”[16].

Thứ hai, phải khiêm tốn trong quá trình học tập với tinh thần "Cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập"[17]. Sinh viên thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Phải chịu trách nhiệm kết quả học tập của mình trước Đảng, giai cấp, nhân dân”; “Phải khiêm tốn, chớ eo sách, ganh đua chơi bời; hưởng thụ đúng mực, từ chối cái thừa” [18].

Thứ ba, phải thi đua và đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập theo tinh thần “Các trò nên đua nhau học”; “Lớp này nên thi đua với lớp khác, trường này với trường khác, làm cho học trò thêm hăng hái” [19].

2.3. Xác định phương pháp học tập

Thứ nhất, học phải chủ động, sáng tạo

Trong quá trình học tập, chiếm lĩnh tri thức sinh viên cần phải thể hiện tinh thần chủ động, sáng tạo, bởi chỉ có những tri thức được hình thành một cách chủ động thì chủ thể mới lĩnh hội và biến tri thức của xã hội thành kỹ năng, năng lực của bản thân. Đây chính là yếu tố quan trọng nhất của tự học. Kiến thức trong nhà trường là nền tảng, là hạt nhân để hình thành hệ thống tri thức của mỗi cá nhân. Trong bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa 1, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Người chỉ rõ: “Thời gian các bạn đến nghiên cứu ở trường này tương đối ngắn ngủi, cho nên không thể yêu cầu quá cao, quá nhiều. Những điều các bạn nghiên cứu được ở đây có thể ví như một hạt nhân bé nhỏ. Sau này, các bạn sẽ tiếp tục chăm sóc, vun xới, làm cho hạt nhân ấy mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết quả"[20].

Thứ hai, học tập gắn với thực tế

Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Hồ Chí Minh đã khẳng định tầm quan trọng của việc áp dụng tri thức lý luận vào thực tiễn, bởi theo Người lý luận cốt chỉ để áp dụng vào thực tiễn, phục vụ thực tiễn: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”[21]. Trong lời căn dặn đoàn cán bộ khoa học đầu tiên của Việt Nam sang Liên Xô học tập, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Học phải đi đôi với hành, chứ không phải học để nói suông" [22]. Như vậy, theo quan điểm của Người, trong quá trình học tập sinh viên không phải học thuộc lòng từng câu từng chữ mà phải nắm được cốt lõi của vấn đề, hiểu được những nội dung cơ bản và quan trọng là vận dụng khối kiến thức đó vào việc lý giải và giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn.

Thứ ba, học phải gắn với thảo luận

Thảo luận có vai trò rất quan trọng trong quá trình nắm vững và vận dụng tri thức vào cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về vai trò của thảo luận: "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào"[23]; "phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học"; "phải biết tự động học tập"[24].

Trong xã hội phát triển, việc tiếp nhận thông tin không còn một chiều mà trở nên đa dạng và phong phú, người giáo viên không phải là "kênh" duy nhất trong việc cung cấp kiến thức. Vì vậy, giáo viên không thể nhồi nhét thật nhiều kiến thức cho sinh viên mà quan trọng hơn là hướng dẫn sinh viên cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin phù hợp. Muốn thảo luận có hiệu quả, sinh viên phải nắm vững nội dung của bài học, có thể đưa ra ý kiến đúng hoặc không đúng để mọi người có cách nhìn toàn diện hơn về một vấn đề, từ đó tìm ra chân lý. Để quá trình thảo luận thành công ngoài sự nỗ lực của sinh viên thì giảng viên đóng vai trò hết sức quan trọng, định hướng của giảng viên chính là yếu tố dẫn dắt quá trình tìm kiếm tri thức của sinh viên.

3. Kết luận

Sinh viên chỉ thực sự hứng thú với tự học - tự nghiên cứu khi bài giảng trên lớp tạo ra được hưng phấn, kích thích được sự say mê tìm tòi, sáng tạo. Vì vậy, công tác giảng dạy của giảng viên ở trên lớp đóng một phần rất quan trọng trọng việc hình thành và rèn lyện kỹ năng tự học cho sinh viên. Giảng viên cần lựa chọn nội dung giảng dạy phù hợp với đối tượng sinh viên, bài học phải gắn với thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu về nâng cao trình độ, hiểu biết mọi mặt cho sinh viên.

Trong quá trình giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng viên cần lồng ghép các nội dung giáo dục tinh thần tự học để góp phần cùng với các bộ môn khác hình thành năng lực tự học cho sinh viên.

                                                                                                                              ThS. Hoàng Thị Nga

                                                                                                                        GV Khoa GDCT, Đại học Vinh.

Chú thích:

1.Đặng Quốc Bảo, 2008, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr 57.

2. Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, Tập 5, NXB CTQG, Hà Nội, tr.469.

3. Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, Tập 6, NXB CTQG, Hà Nội, tr. 50.

4. Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, Tập 5, NXB CTQG, Hà Nội, tr.273.

5. Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, Tập 12, NXB CTQG, Hà Nội, tr.24.

6. Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, Tập 9, NXB CTQG, Hà Nội, tr.288.

7. Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, Tập 9, NXB CTQG, Hà Nội, tr.126-127

8. Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, Tập 9, Tr. 299, Tr. 499.

9. Đặng Quốc Bảo, SĐD, Tr. 58.

10. Đặng Quốc Bảo, SĐD, Tr. 60.

11. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 8, Tr. 215.

12. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 12,Tr. 94

13. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 9, Tr. 180.

14. Đặng Quốc Bảo, SĐD, Tr.43

15. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 6,Tr. 50.

16. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 5, Tr. 253.

17. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 8, Tr. 499.

18. Đặng Quốc Bảo, SĐD, Tr. 33.

19. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 5, Tr. 103.

20. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 8, Tr. 215.

21. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 5, Tr. 234.

22. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 12, Tr. 96.

23.  Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 5, Tr. 272.

24. Hồ Chí Minh, SĐD, Tập 6, Tr. 51.